
Accountable / accountability bắt đầu được sử dụng rất nhiều để đánh giá năng lực trong quản trị nhân sự, vậy accountable / accountability nghĩa là gì?
Hầu hết trong tất cả các bảng mô tả công việc – job description, các nhà tuyển dụng đều yêu cầu ứng viên có tinh thần trách nhiệm trong công việc – responsible to… Nhưng những năm gần đây, thì “responsible” đã dần dần được thay thế thành “accountable”. Vậy điểm khác nhau giữa hai từ này là gì?
Trước đây, người ta cũng quen với việc phân chia nguồn lực trong quản trị bất kì dự án nào, bằng việc ghi chú người làm công việc / nhiệm vụ nào đó cụ thể sẽ là PIC – Person in charge. Nhưng sau này, đã có một thuật ngữ tân tiến hơn để làm rõ hơn trách nhiệm & nhiệm vụ của từng người trong bất kì công việc / nhóm công việc / dự án, đó là RACI, viết tắt cho:
- Responsible: person who performs an activity or does the work – người chịu trách nhiệm làm công việc / nhiệm vụ trực tiếp
- Accountable: person who is ultimately accountable and has Yes/No/Veto. – người chịu trách nhiệm giải trình, có quyền quyết định Yes / No hay phủ quyết
- Consulted: person that needs to feedback and contribute to the activity. – người có trách nhiệm liên đới trong công việc
- Informed: person that needs to know of the decision or action. – người được báo cáo về tiến độ công việc và những quyết định
(Nguồn: https://www.projectsmart.co.uk/how-to-do-raci-charting-and-analysis.php)
Với sự giải nghĩa trên, một cách nào đó, ta đã thấy được sự khác nhau giữa Responsible và Accountable.
Nhưng thực tế ra, trong cách hiểu của mình, accountable mang ý nghĩa sâu rộng hơn cả chuyện giải trình và chuyện quyết định. Bởi lẽ, kết quả của quyết định đó là gì, dẫn đến kết quả ra sao, và khi giải trình cho kết quả đó, nếu tốt thì sao và nếu kết quả không tốt thì sao?
Câu chuyện của responsible chỉ dừng lại ở chỗ là sử dụng năng lực (kiến thức, kĩ năng, khả năng) để hoàn thành xong công việc trong phạm vi cá nhân. Ví dụ: người công nhân sản xuất ở vị trí của mình trong dây chuyền, phải làm ra được sản phẩm theo đúng mẫu để tiếp tục được đưa qua bộ phận tiếp theo. Đó là câu chuyện responsible của cuộc cách mạng công nghiệp, khi nhà máy và những dây chuyền sản xuất trở thành công cụ lao động chính làm dịch chuyển cả nền kinh tế.
Nhưng trong cuộc cách mạng của công nghệ thông tin và công nghệ cao, rất nhiều nhóm ngành nghề mới xuất hiện, đòi hỏi khung năng lực mới, cũng vẫn là kiến thức, kĩ năng, khả năng thôi, nhưng phải sáng tạo hơn, linh hoạt hơn. Công việc phức tạp hơn, đòi hỏi phải làm việc nhóm, công việc trong phạm vi cá nhân của người này phải hoàn thành tốt nhưng kết quả phải phù hợp với mục tiêu chung của cả nhóm, cả tập thể. Vì vậy, trong nền kinh tế mới, lực lượng lao động lại cần phải có accountable cùng team-work thì mới có thể hợp tác hài hòa cùng tạo ra thành quả.
Những biểu hiện hành vi nào của tinh thần accountable:
- Sẵn sàng nhận trách nhiệm giải trình cho kết quả công việc, phân tích thành công / thất bại và nếu thất bại, luôn nhận lỗi về mình trước nhất
- Không ngại dấn thân vào những công việc khó, phức tạp hay những công việc mới lạ, và trực tiếp bắt tay vào làm chứ không chỉ là lên kế hoạch
- Cái tôi cá nhân và thành quả cá nhân sẽ dành ưu tiên sau thành quả của cả tập thể, thường quên mất bản thân mình mà dành lời khen ngợi cho người khác
Mình có một biểu đồ giả định của bản thân, thể hiện sự tương quan giữa tính phức tạp của công việc (complexity), tinh thần chịu trách nhiệm (accountability) và khả năng đào sâu vào hoàn thành công việc (responsibility)

Khi bạn có tinh thần chịu trách nhiệm để ra quyết định và giải trình càng cao, thì bạn càng dấn thân hay càng được tin tưởng để giao những trọng trách phức tạp, nhờ vậy, bạn sẽ được thực hiện công việc trong phạm vi sâu rộng hơn.
Và từ đó, bạn nâng cao được khung năng lực của bản thân – competency framework, và có thêm những kinh nghiệm thực tế hơn là chỉ có kinh nghiệm từ việc quan sát người khác thực hiện.
Vậy thì, làm sao để có thể có và trau dồi tinh thần accountable?
Trước tiên, accountable được xem là một năng lực khi làm việc (competence), và một năng lực bất kì nào đó phải có hai tính chất đó là: visible và trainable – quan sát được và có thể đào tạo / trau dồi được. Quan sát được để đánh giá khung năng lực từ đó đánh giá thành quả công việc – performance appraisal. Và đào tạo / trau dồi được để phát triển năng lực bản thân trở nên tốt hơn. Accountable may mắn không hẳn là một trait – nghĩa là một nét thuộc tính bẩm sinh, sinh ra đã có và không thể trau dồi.
Cá nhân mình nghĩ, để có thể có tinh thần accountable, phải rèn luyện rất nhiều, trong đó phải kể đến là sự chủ động trong công việc, tinh thần ham học hỏi, sự lu mờ của cái tôi cá nhân trước tập thể, khả năng thích ứng để giải quyết vấn đề phức tạp, sự dũng cảm vượt trên nỗi sợ thất bại, sợ bị đánh giá, sự chú tâm vào cả quá trình, khả năng phản biện và tư duy lập luận…
Nếu có thời gian, mình sẽ dành một bài viết về kĩ hơn về việc trau dồi tinh thần accountable.
Điều gì thể hiện sự chưa toàn vẹn của tinh thần accountable?
Sự im lặng từ chối nhận trách nhiệm. Sự đổ thừa “tại vì, bởi lẽ, tưởng là…” Thật khó cho chúng ta, với sự giáo dục lâu đời né tránh nhận cái sai về bản thân, đôi khi đã bám rễ quá sâu vào tiềm thức. “Lời xin lỗi” hóa ra lại rất khó nói. Và sợ bị đánh giá – judge.
Hy vọng rằng, mỗi ngày một chút, có thể chỉ là 1%, nhưng sẽ cố gắng cải thiện nhận thức về tinh thần accountable, bắt đầu từ bản thân, là luôn nhận trách nhiệm về mình.
